Connect with us

Published

on

2016 sẽ được nhớ mãi như là một năm buồn của bóng đá thế giới. Huyền thoại Johan Cruyff, người đã một tay tạo dựng nên hai đế chế bóng đá vĩ đại ở Hà Lan và Tây Ban Nha, đã trút hơi thở cuối cùng trong một ngày mưa buồn của tháng Ba.

Từ siêu sao đầu tiên…
Johan Cruyff thuộc thế hệ người Hà Lan đầu tiên sinh ra sau chiến tranh thế giới thứ 2. Đó là thế hệ đã phải trải qua đủ cơ cực của những năm tháng tái thiết thời hậu chiến, nhưng cũng là thế hệ đầu tiên được tận hưởng những thay đổi tích cực.

Cruyff lớn lên giữa lúc xã hội Hà Lan bừng bừng không khí “nổi loạn”. Thay vì mặc nhiên chấp nhận, người trẻ bắt đầu đặt câu hỏi về những giá trị cũ. Mọi giá trị cũ. Xã hội Hà Lan những năm 1960 đầy bất ổn, nhưng chính sự “bất ổn” ấy đã tạo ra những thiên tài, mà Johan Cruyff là một trong số đó.

Johan Cruyff (1947-2016): Huyền thoại 2 đế chế

Tài năng của Cruyff đã được nói tới quá nhiều và nếu nói thêm nữa thì có lẽ là thừa. Nhưng có một điều mà không phải ai cũng biết: Cruyff được xem như siêu sao bóng đá đầu tiên của thế giới. Sức hút của “thương hiệu Cruyff” là cực lớn, cả trong lẫn ngoài sân cỏ.

HLV huyền thoại Rinus Michel, người được xem là “cha đẻ” của bóng đá tổng lực, cũng là người đã dẫn dắt Cruyff ở Ajax, ĐT Hà Lan rồi Barca, từng “đúc kết” sự nghiệp của mình bằng một câu: “Nếu không có Cruyff, tôi chẳng có đội bóng nào cả”.

Phải, Cruyff không tạo ra, nhưng là hiện thân của bóng đá tổng lực. Nói như cựu danh thủ của M.U – Eric Cantona – thì “Cruyff có thể trở thành cầu thủ hay nhất thế giới ở mọi vị trí”. Cruyff vừa là người khởi đầu, tổ chức, vừa là người kết thúc một pha tấn công. Trong các trận đấu, hình ảnh thường thấy về Cruyff là ông lùi về sân nhà nhận bóng từ thủ môn, ra dấu, chỉ đạo các đồng đội di chuyển, tổ chức các đợt lên bóng, trước khi xuất hiện ở đầu sân đối diện để tung đòn kết liễu.

Thời ông chơi bóng cho Barca, CĐV của các đội bóng ở La Liga sẵn sàng la ó chính cầu thủ đội nhà nếu anh ta “chẳng may” phạm lỗi với Cruyff. Đơn giản vì họ khao khát được xem Cruyff bằng xương bằng thịt trên sân từ quá lâu, và không muốn niềm vui ấy bị cắt ngắn bởi một pha đá xấu. 

Tư tưởng chống lại kiểu tư duy theo lối mòn cũng được Cruyff thể hiện rõ qua… trang phục. Ông là người đầu tiên tự chọn số áo ở World Cup, bất chấp nỗ lực cấm cản từ ban tổ chức. Thời đó, cầu thủ vẫn ra sân với số áo được chỉ định theo tên, và các cầu thủ đá chính chỉ mang áo từ 1 đến 11. Chiếu theo “luật” ấy, Cruyff phải mang số 1. Nhưng ông quyết lấy số 14!

… đến Di sản của Cruyff
Bóng đá Hà Lan và bóng đá Barcelona giống nhau ở một điểm: Cả hai nền bóng đá này đều được chia làm 2 thời kỳ, trước và sau khi có Cruyff. Trước khi có Cruyff, bóng đá Hà Lan là một trò hề. Sau khi có Cruyff, đội tuyển của họ trở thành một thế lực. Trước khi có Cruyff, Barcelona là một đội bóng lớn, nhưng không có bản sắc. Sau khi có Cruyff, nói tới Barca là nói tới một phong cách, một triết lý bóng đá mà tất cả đều ngưỡng mộ và rất nhiều muốn học theo.

Cả trong vai trò cầu thủ lẫn HLV, Cruyff đã giành được rất nhiều danh hiệu, đáng kể là 8 chức vô địch Hà Lan, 5 chức vô địch La Liga, và 4 chức vô địch Cúp C1/Champions League. Đó là một kho di sản đồ sộ, nhưng chưa phải là tất cả. Một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, Cruyff để lại dấu ấn trong tất cả những đội bóng vĩ đại nhất, từ Ajax và Hà Lan của những năm 1970, Milan của Arrigo Sacchi của những năm 1980, “Dream Team Barca” của những năm đầu 1990, Barca của Pep Guardiola giai đoạn từ 2008-2012, và đội tuyển Tây Ban Nha cũng trong giai đoạn ấy. 

Mở rộng vấn đề thì di sản quan trọng nhất của Cruyff chính là một triết lý bóng đá riêng biệt. Ở Hà Lan hay ở Tây Ban Nha, đâu đâu bạn cũng có thể gặp những cầu thủ chơi “kiểu Cruyff”: Nghĩa là chơi bóng thông minh, tinh tế nhờ dải kỹ năng với bóng rộng. Và di sản ấy chỉ có thể ngày càng được nhân rộng nhờ một thế hệ HLV tài năng mới, dẫn đầu là Pep Guardiola, những người được thừa hưởng sự thông thái và được truyền cảm hứng từ người thầy vĩ đại Johan Cruyff.

Chừng nào người ta còn chơi bóng, chừng ấy tên ông vẫn còn được nhắc tới…

2016 – Một năm mất 2 đội trưởng vĩ đại
Không chỉ có Cruyff, năm 2016 còn “lấy đi” của bóng đá thế giới một đội trưởng vĩ đại khác. Ông là Carlos Alberto, đội trưởng của đội tuyển Brazil vô địch World Cup 1970, qua đó trở thành đội bóng đầu tiên 3 lần vô địch thế giới. Carlos Alberto mất ngày 25/10, thọ 72 tuổi, sau một cơn đau tim.

Nguồn: bongdaplus.vn

Tiếp tục đọc
Click to comment

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Kinh doanh

Từ nhân viên bán hàng đến ông chủ câu lạc bộ bóng đá

Published

on

By

Flavio Augusto da Silva khởi nghiệp bằng khoản vay, trở thành ông chủ chuỗi trường dạy ngoại ngữ và nắm phần lớn cổ phiếu câu lạc bộ Orlando City, Mỹ.

Năm 1991, tại  Rio de Janeiro, Brazil, chàng trai 19 tuổi Flavio Augusto da Silva tìm được công việc bán hàng qua điện thoại cho trường dạy tiếng Anh. Vị trí này không yêu cầu phải đến văn phòng và công ty muốn ông làm việc ở nhà. Tuy nhiên, nhà Augusto lại không có đầu dây điện thoại riêng – một thứ xa xỉ ở Brazil vào thời điểm ấy. Bố mẹ ông không thể trả nổi mức phí dịch vụ tương đương 272 USD. Và dù có đủ tiền, họ cũng phải nằm ở danh sách chờ trong hai năm.

Augusto phải nghĩ cách khác hoặc thời gian làm việc của ông sẽ không kéo dài quá lâu. Giải pháp là dùng điện thoại công cộng tại sân bay Santos Dumont ở Rio de Janeiro.

Khi làm công việc bán hàng, ông sớm nhận ra mình giỏi ở lĩnh vực này, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn khi trao đổi qua điện thoại giữa không gian ồn ào của sân bay. Từ một nhân viên bình thường, ông nhanh chóng được cất nhấc lên vị trí giám đốc thương mại. Bốn năm sau, khi cảm thấy thời điểm đã chín mùi, Augusto tự mở một trường dạy tiếng Anh của riêng mình.

“Tôi thấy đã sẵn sàng vì công ty đang làm việc không muốn đầu tư để cải thiện chất lượng các khóa học. Tôi hiểu rất rõ sản phẩm này và biết mình có thể làm được”, doanh nhân sinh năm 1972 nhớ lại.

Tuy nhiên, Augusto đối diện với hai vấn đề cấp thiết. Mặc dù rất giỏi bán các khóa dạy tiếng Anh, nhưng không am hiểu ngôn ngữ này. Vì vậy sẽ rất khó cho ông trong việc đưa ra các bài học thực tế. Thứ hai, Augusto không thể vay ngân hàng và phải mở công ty dựa vào khoản thấu chi 20.000 USD với lãi suất cao.

Ông thuê 18 người có kỹ năng tiếng Anh để phát triển các bài giảng, phương pháp học và tin sẽ có đủ người đăng ký khóa học, giúp ông không phá sản chỉ trong vài tháng.

Triệu phú Brazil Flavio Augusto da Silva. Ảnh:Agência O Globo. 
Triệu phú Brazil Flavio Augusto da Silva. Ảnh:Agência O Globo. 

Với Wise Up, Augusto tập trung vào việc thu hút nhiều dạng khách hàng ở Brazil. Trong thời điểm ấy, hầu hết các ngôi trường tai đây đều chỉ tập trung vào trẻ em và những người đi du lịch nước ngoài trong các kỳ nghỉ. Thay vào đó, ông muốn phát triển khóa học cho người lớn – những ai cần học và nâng cao tiếng Anh để đáp ứng thị trường việc làm tại quốc gia này.

“Có rất nhiều công ty quốc tế đã cập bến Brazil vào năm ấy, vì thế tiếng Anh trở thành nhu cầu trong quá trình tuyển dụng”, ông phân tích.

Sự suy đoán của Augusto đã đúng. Dù bối cảnh kinh tế chung khó khăn với chỉ số lạm phát năm 1995 lên đến 148%, 1.000 người đã đăng ký khóa học đầu tiên của Wise Up ở thủ đô Rio trong năm đầu tiên. Đến 1998 có 24 ngôi trường khắp Brazil với 1.000 nhân viên.

Hai năm sau, thương hiệu bắt đầu mở rộng nhanh hơn sau khi chấp nhận hình thức nhượng quyền thương hiệu. Cho đến 2012, đã có 400 ngôi trường Wise Up khắp xứ sở của vũ điệu samba. Đó là lúc Augusto nghĩ sứ mệnh của ông tại công ty đã hoàn thành.

“Là một doanh nhân, tôi nhìn nhận bản thân như một nhà xây dựng. Tôi muốn tạo nên một dự án thành công và sau đó bước vào những thử thách khác”. Năm ấy, ông quyết định bán Wise Up với giá 480 triệu USD cho tập đoàn truyền thông Grupo Abril.

Thử thách tiếp theo mà Augusto lựa chọn là bóng đá, nhưng không phải trong vai trò cầu thủ. Năm 2013, ông mua số lượng lớn cổ phiếu ở câu lạc bộ Orlando City tại Mỹ với giá 120 triệu USD một thời gian ngắn trước khi họ tham gia giải bóng đá nhà nghề Mỹ (MLS).

Trong những năm trở lại đây, giải đấu này bắt đầu được quan tâm nhiều hơn, kéo theo giá trị của đội bóng tăng vọt, hiện ước tính đạt 490 triệu USD, trở thành một trong những đội bóng giàu nhất tại MLS. Một trong những lý do chính mà Augusto chọn thành phố Orlando vì đây là điểm đến du lịch nước ngoài được người Brazil ưa chuộng.

Flavio Augusto da Silva cùng ngôi sao bóng đá Kaka. Ảnh: Orlando Magazine. 
Flavio Augusto da Silva cùng ngôi sao bóng đá Kaka. Ảnh: Orlando Magazine

Năm 2015, Wise Up gặp khó khăn và Grupo Abril đã bán lại công ty cho Augusto với giá 107 triệu USD. Với sự dẫn dắt của vị doanh nhân giàu kinh nghiệm, thương hiệu này tiếp tục mở rộng một lần nữa, hiện có 440 cơ sở khắp Brazil, Argentina, Colombia và Mexico, dưới tập đoàn mẹ Wiser Education. Augusto nói ông muốn tăng con số này lên 1.000 vào 2020 nên chưa có ý định lần thứ hai rời vị trí điều hành.

Giờ đây, doanh thu hằng năm của thương hiệu ước tính 113 triệu USD và tài sản cá nhân của Augusto ước đoán khoảng 700 triệu USD. “Không nghi ngờ gì, tôi đã tìm ra bước ngoặt cuộc đời ở sân bay”, người đàn ông 46 tuổi nói.

Nhà phân tích kinh doanh người Brazil Ricard Motta cho rằng Augusto có được danh tiếng hôm nay vì ông là một doanh nhân táo bạo, người có thể mở rộng công ty một cách nhanh chóng vì lên kế hoạch rõ ràng cho từng bước đi của mình.

Dù hiện giờ vô cùng bận rộn cùng trường dạy ngôn ngữ và câu lạc bộ bóng đá, doanh nhân vẫn thường xuyên cập nhật blog online có tên “Valuation Generation” nhằm đưa những lời khuyên và khuyến khích những người trẻ muốn trở thành doanh nhân.

“Mọi người đều có thể làm được điều mình muốn. Tôi không thấy mình giỏi hơn bất cứ ai, điều quan trọng là học hỏi cách làm để thành công”, Augusto đút kết chặng đường đã qua.

Nguồn: vnexpress.net

Tiếp tục đọc

Thể thao

Alfredo Di Stefano là ai? Tại sao Stefano được gọi là huyền thoại không World Cup?

Published

on

By

Alfredo Di Stefano thi đấu cho ba đội tuyển quốc gia khác nhau nhưng huyền thoại này không một lần được góp mặt ở ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh.

Alfredo Di Stefano là ai?

Alfredo Di Stefano sinh ngày 4 tháng 7 năm 1926 tại Barracas, Buenos Aires, Argentina, ông là cố cầu thủ bóng đá kiêm huấn luyện viên gốc Argentina. Tên tuổi của ông gắn bó với CLB Real Madrid, và là đối tác ăn ý trên hàng công cùng với Ferenc Puskás trong suốt thời kỳ CLB này thống trị các cúp vô địch châu Âu trong thập niên 1950, đó là thời kì mà Real Madrid dành 5 chiếc cúp vô địch châu Âu liên tiếp từ 1956.

Alfredo Di Stefano là ai? Tại sao Stefano được gọi là huyền thoại không World Cup?
Alfredo Di Stefano là ai? Tại sao Stefano được gọi là huyền thoại không World Cup?

Alfredo Di Stefano cũng từng chơi trong màu áo 3 đội tuyển quốc gia là Argentina, Colombia và Tây Ban Nha. Ông từng 2 lần giành Quả Bóng Vàng vào các năm 1957, 1959. Ông là một trong những cầu thủ xuất sắc và vĩ đại nhất lịch sử bóng đá.

Alfredo Di Stefano với biệt danh Saeta rubia (Mũi tên bạc) đã được ghi danh vào International Football Hall of Fame. Ông là một tiền đạo mạnh mẽ với thể lực tuyệt vời, sự linh hoạt trong chiến thuật và một nhãn quan sắc nhọn.

Ông hiện là tay săn bàn xuất sắc thứ 3 mọi thời đại trong lịch sử giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha (hiện gọi là La Liga), với thành tích 228 bàn trong 329 trận, chỉ sau có Hugo Sánchez (234 bàn) và Telmo Zarra (251 bàn). Di Stéfano cũng là tay săn bàn xuất sắc nhất tại cúp nội địa trong lịch sử Real Madrid, với 216 bàn trong 285 trận ở giải nội địa từ giai đoạn 1953 đến 1964.

Tháng 11 năm 2003, để chúc mừng lễ kỉ niệm 100 năm của FIFA, Alfredo Di Stefano đã được Liên đoàn bóng đá hoàng gia Tây Ban Nha chọn là cầu thủ vàng của bóng đá Tây Ban Nha, cầu thủ nổi bật nhất của bóng đá nước này 50 năm qua.

Di Stefano-2

Ông được Pele chọn vào danh sách 125 huyền thoại sống của bóng đá thế giới tháng 3 năm 2004. Ngoài ra, ông còn đứng ở vị trí thứ 4 bên cạnh Pelé, Diego Maradona, Johan Cruijff trong cuộc bầu chọn bởi các danh thủ từng đoạt quả bóng vàng châu Âu được tổ chức bởi tạp chí bóng đá hàng tuần của Pháp France Football để chọn ra cầu thủ của thế kỉ.

Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 2014 tại thành phố Madrid, Tây Ban Nha.

Alfredo Stefano – huyền thoại không World Cup?

Không chỉ là một tiền đạo xuất chúng với thể lực bền bỉ, kỹ thuật siêu phàm, nhãn quan chiến thuật và ý chí thi đấu rất cao, Di Stefano còn có thể chơi ở nhiều vị trí khác trên sân. Nổi tiếng nhất với vai trò trung phong, nhưng ông còn là cầu thủ phòng ngự cừ khôi và có thể chơi tốt trong vai trò một tiền vệ giữa hoặc chạy cánh.

Thể lực tuyệt vời cho phép “Mũi tên bạc” ngay sau khi tham gia một tình huống phòng ngự của đội nhà đã vọt lên cấm địa của đối phương để ghi bàn. Trong khi Pele giã từ bóng đá quốc tế vào tuổi 30 còn Diego Maradona rời sân khấu bóng đá ở tuổi 31, thể lực tuyệt hảo của Di Stefano cho phép ông chơi bóng đá đỉnh cao tại châu Âu tới năm 40 tuổi.

Tuy nhiên, sự nghiệp tại ĐTQG là cái kết buồn cho 1 huyền thoại. Di Stefano đã chơi cho ba đội tuyển trong suốt sự nghiệp: Argentina, Colombia (không được FIFA công nhận) nhưng lại chưa bao giờ được dự vòng chung kết World Cup.

World Cup đầu tiên mà Di Stefano có khả năng tham gia là năm 1950. Tuy nhiên, Argentina đã tẩy chay giải khiến Di Stefano (ở tuổi 24) lỡ cơ hội đầu tiên được chơi ở một vòng chung kết. Tới World Cup 1954, Argentina không được tham dự và FIFA tuyên bố Di Stefano không đủ tư cách để chơi cho một ĐT nào khác bởi ông từng khoác áo của cả Argentina và Colombia.

Lối thoát mở ra khi Di Stefano có được quốc tịch Tây Ban Nha năm 1956. Ông chơi bốn trận vòng loại World Cup cho đội tuyển xứ đấu bò năm 1957 nhưng không đoạt được vé dự World Cup 1958. Năm 1961, Di Stefano (khi đó đã 35 tuổi) giúp Tây Ban Nha vượt qua vòng loại World Cup 1962 nhưng một chấn thương cơ ngay trước giải lại ngăn cản ông đến ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh.

Di Stefano chia tay bóng đá quốc tế sau trận đấu cuối cùng cho đội tuyển Tây Ban Nha (hòa Pháp 1-1) ngày 10/12/1961. Sau đó, ông chuyển qua làm HLV và Chủ tịch danh dự của CLB Real Madrid.

Nguồn: Tổng hợp

Tiếp tục đọc

Thể thao

Siêu huyền thoại Ferenc Puskas cuộc đời và sự nghiệp

Published

on

By

Có những cầu thủ mà ngay cả Johan Cruyff hay Franz Beckenbauer cũng luôn xem đó là thần tượng; còn Ronaldo, Raul, Ronaldinho luôn “nép mình” kính phục khi được diện kiến. Một trong số đó là Ferenc Puskas – huyền thoại bóng đá mới qua đời cuối tuần trước.

Sinh ngày 2/4/1927 (mất 17/11/2006), Ferenc Puskas là một thiên tài vĩ đại trong lịch sử bóng đá thế giới. Có không ít người lầm tưởng ông chỉ vang danh khi gia nhập CLB Real Madrid, nhưng thực tế tên tuổi của huyền thoại này đã được biết đến khá rộng rãi từ khi còn thi đấu cho Honved Kispest – đội bóng giàu truyền thống nhất của Hungary.

Trong thập niên 50 thế kỷ trước, cùng với các đồng đội tài năng ở đội tuyển Hungary như Zoltán Czibor, Sándor Kocsis (hai cựu ngôi sao của Barcelona), József Bozsik và Nándor Hidegkuti, Ferenc Puskas (với tư cách thủ quân) đã tạo nên một “đế chế” hùng mạnh mà hiếm thế lực bóng đá tự cổ chí kim nào có thể sánh được.

Sau những biến động chính trị năm 1956 ở Hungary, ngôi sao có biệt danh “thiếu tá siêu tốc” đã chuyển tới sinh sống tại Tây Ban Nha. Và từ đây, Ferenc Puskas đã trở thành một phần vô cùng quan trọng của đế chế mới “ở đẳng cấp CLB” có tên Real Madrid – nơi ông được vinh danh cùng các ngôi sao sáng nhất như Di Stéfano, Gento, Kopa hay Santamaria.

Nổi tiếng với cú sút chân trái mạnh thần sầu và tốc độ cực nhanh, Puskas thực sự một “cỗ máy ghi bàn” hiếm thấy trong lịch sử bóng đá. Ông từng có 4 lần giành danh hiệu vua phá lưới giải vô địch Hungary, trong đó, riêng năm 1948, ông trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất châu Âu. Khi còn phục vụ cho Real Madrid, Puskas cũng có 4 lần đoạt giải thưởng Pichichi (vua phá lưới La Liga) và từng ghi 7 bàn thắng trong hai trận chung kết Cúp C1.

Sau khi giải nghệ cầu thủ đầy vinh quang, Puskas đã đạt được không ít thành công trong sự nghiệp HLV. Điển hình nhất là năm 1971, khi ông đưa CLB ít tiếng tăm Panathinaikos (của Hy Lạp) lọt vào trận chung kết Cúp C1. Chỉ tiếc rằng đối thủ cuối cùng lúc đó là Ajax đã quá mạnh với thế hệ Johan Cruyff.

Một huyền thoại bất tử của bóng đá Hungary và Đông Âu.

Ở Hungary ngày nay, để tưởng nhớ ông, một SVĐ nằm tại thủ đô Budapest đã mang tên Ferenc Puskas được 4 năm. Nhưng có lẽ không có giải thưởng nào xứng đáng với huyền thoại này hơn ngoài hai danh hiệu “cầu thủ vàng của bóng đá Hungary qua nửa thế kỷ” (trao tặng trong lễ kỷ niệm đặc biệt của UEFA năm 2003) và “cầu thủ xếp thứ 6 trong danh sách các ngôi sao bóng đá của mọi thời đại” (do liên đoàn thống kê và lịch sử bóng đá quốc tế – IFFHS – bình chọn).

Nguồn gốc của biệt danh “thiếu tá siêu tốc”

Puskás khởi nghiệp với tư cách cầu thủ trẻ của CLB Kispest – nơi cha ông làm HLV. Ban đầu, trước khi được ký hợp đồng chính thức vào năm 12 tuổi, huyền thoại này đã phải chơi dưới cái tên bí mật Miklós Kovács. Cùng gia nhập Kispest với Puskas còn có ban thân thủa nối khố József Bozsik – cầu thủ mà sau đó cũng trở thành một phần quan trọng của “đế chế bóng đá” Hungary.

Năm 1949, được bộ quốc phòng Hungary tiếp quản, AC Kispest trở thành đội bóng quân đội với cái tên mới là Honvéd Kispest. Vì các thành viên cũng được coi như một quân nhân nên chẳng mấy chốc nhờ thành tích đá bóng xuất sắc, Puskas được thăng hàm thiếu tá. Và biệt danh “thiếu tá siêu tốc” cũng ra đời từ đó.

Do có thể tuyển quân từ nguồn lính trẻ nhập ngũ, Honved tập hợp được vô số tài năng của bóng đá Hungary. Trong số này có cả hai ngôi sao Zoltán Czibor và Sándor Kocsis. Cùng với họ, Puskas đã giúp CLB giành được 5 chức vô địch quốc gia. Ngoài ra, ông còn giành 4 danh hiệu vua phá lưới ở các mùa bóng 1947-48, 1949-50, 1950-1951 và 1952-1953 (với số bàn lần lượt là 50, 31, 25, và 27). Nếu chỉ tính mùa bóng 1947-1948, Puskas là cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất tại một giải vô địch quốc gia thuộc châu Âu.

“Đế chế bóng đá Hungary”

Khoác áp đội tuyển quốc gia lần đầu tiên vào ngày 20/8/1945 (khi mới hơn 18 tuổi), Puskas đã khởi đầu sự nghiệp quốc tế vẻ vang của mình bằng cách ghi bàn trong trận đè bẹp Áo 5-2. Từ đây, ông trở thành “cỗ máy dội bom” không thể ngừng lại của đoàn quân được mệnh danh “những phù thủy Magyar”. Tính tổng cộng trong 85 lần khoác áo đội tuyển Hungary, Puskas đã có 84 lần phá lưới đối phương (một kỷ lục nếu xét về tính hiệu quả).

Cùng với Zoltán Czibor, Sándor Kocsis, József Bozsik và Nándor Hidegkuti, chàng thủ quân còn có một biệt danh khác là “người anh nhỏ” đã làm nên một đội tuyển quốc gia mạnh khủng khiếp trong lịch sử với chuỗi 32 trận bất bại liên tiếp. Cho đến nay, đấy vẫn là một kỷ lục hầu như không thể phá vỡ.

Trong hành trình đoạt chiếc HCV Olympic 1952 (có thể coi như chức vô địch thế giới không chính thức vì các nước đều cử đội tuyển quốc gia), Hungary đã đánh bại ứng cử viên nặng ký là Nam Tư, bằng tỷ số 2-0 trong trận chung kết diễn ra tại Helsinki (Phần Lan). Puskas đã ghi 4 bàn ở giải này, trong đó có bàn mở tỷ số trận quyết định tranh huy chương vàng.

Một trong những chiến tích đáng kể nhất của “đế chế Hungary” là đã dạy hai bài học cho đội tuyển Anh, nơi vẫn được xem như quê hương của bóng đá. Trận thứ nhất diễn ra tại Wembley năm 1953, đã kết thúc với tỷ số 6-3 nghiêng về đội khách. Và trong lần quyết phục thù của đoàn quân ba sư tử tổ chức ở Budapest một năm sau, Hungary thậm chí còn thắng thuyết phục hơn: 7-1. Với hai bàn thắng trong mỗi trận, Puskas trở thành nỗi ám ảnh xen lẫn thán phục của người dân xứ sở sương mù. Trong năm 1953, Hungary cũng thêm Cúp “Dr. Gero” – một danh hiệu dành cho các đội tuyển thuộc khu vực Trung Âu. Giải đấu bắt đầu từ năm 1948 và kéo dài suốt 5 năm. Cuối cùng, Hungary đứng đầu với 11 điểm. Puskas kết thúc giải cùng danh hiệu vua phá lưới (10 bàn), trong đó có hai bàn giúp Hungary đoạt Cúp bằng trận thắng Italy 3-0 ngay tại Rome.

Puskas (phải) chúc mừng thủ quân đội tuyển Đức, Fritz Walter (người được lấy tên đặt cho SVĐ của CLB Kaiserslautern) sau trận chung kết World Cup 1954.

Chuỗi 32 trận bất bại của “đế chế Hungary” chỉ bị chấm dứt bởi trận thua 2-3 trước Đức ở chung kết World Cup 1954. Trong trận này, do bị chấn thương từ trước, Puskas đã không đạt phong độ tốt. Mặc dù vậy, đích thân ông đã mở tỷ số ở phút thứ 6. Cách biệt cho Hungary, chỉ khoảng 2 phút sau, tiếp tục được nhân đôi nhờ công Czibor. Tuy nhiên, người Đức đã chứng minh được “tinh thần thép truyền thống” bằng hai bàn gỡ trước giờ nghỉ giải lao. Khi trận đấu chỉ còn 6 phút, “cỗ xe tăng” ấn định tỷ số 3-2. Còn Puskas, cầu thủ hay nhất bên phía đội thất bại, đã kết thúc trận đấu buồn nhất trong sự nghiệp bóng đá của mình bằng bàn thắng không được công nhận ở phút 88.

Bước ngoặt đời cầu thủ

Năm 1956, Honvéd tham dự Cúp C1 và gặp Athletic Bilbao ở vòng đầu tiên. Trong khi để thua 2-3 trên sân khách, thành phố đóng đô của CLB ở quê hương (thủ đô Budapest) đã trở nên hỗn loạn vì bất ổn chính trị.

Sau khi phải “trả giá” vì quyết định chọn sân trung lập Heysel để thi đấu trận lượt về (hòa 3-3 và Honved bị loại bằng kết quả chung cuộc 5-6), các cầu thủ đã không chọn con đường trở về. Họ tập hợp gia đình, bất chấp lệnh cấm của FIFA cũng như liên đoàn bóng đá Hungary, để tổ chức chuyến du đấu vòng quanh thế giới, tới Italy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và Brazil.

Sau khi trở lại châu Âu, Honved hùng mạnh đã “tan đàn xẻ nghé”. Một số cầu thủ, trong đó có Bozsik, trở về Hungary, trong khi số còn lại bao gồm cả Czibor, Kocsis và Puskás, đã đầu quân cho các CLB Tây Âu. Ở tuổi 29, đời cầu thủ của Puskas tưởng chừng sắp đi xuống bên kia sườn dốc lại bước sang một trang mới vẻ vang hơn.

Real Madrid

Quãng thời gian hòa nhập với cuộc sống mới không thực sự suôn sẻ đối với “thiếu tá siêu tốc”. Sau vài trận thử việc ở Espanyol, Puskas đã bị liên đoàn bóng đá châu Âu cấm thi đấu hai năm vì quyết định từ chối trở về Hungary.

Khoảng thời gian thử thách này thực sự vất vả đối với cầu thủ đã đi quá nửa sự nghiệp. Anh phải lang thang tới Áo, rồi sang Italy – nơi có tin Juve và Milan muốn kiểm chứng tài nghệ của ngôi sao hay nhất Đông Âu.

Nhưng cuối cùng, chẳng biết bằng cách nào và quyết tâm lớn đến đâu, Real Madrid đã dũng cảm ký hợp đồng với lão tướng 31 tuổi. Đó là một tân binh vừa trải qua hai năm tròn không được chơi bóng đỉnh cao nhưng lại là nhân vật chính của một trong những quyết định đúng đắn nhất mà CLB Hoàng gia từng đưa ra.

Puskas (trái) cùng hai siêu sao của Real là Santamaria và Di Stefano.

Trong 8 mùa bóng khoác áo “kền kền trắng”, Puskas đã ghi được 156 bàn trong 180 trận tại La Liga. Về khoản danh hiệu nội địa, ngoài 5 chức vô địch Tây Ban Nha liên tiếp (1961-1965), “thiếu tá siêu tốc” còn sưu tập thêm 4 giải thưởng Pichichi (vua phá lưới) ở các năm 1960, 1961, 1963, 1964 (khi đã 37 tuổi) với số bàn thắng lần lượt là 26, 27, 26 và 20.

Trên đấu trường Cúp C1, tuy gánh nặng tuổi tác đè chặt, nhưng Puskas vẫn kịp chơi 39 trận và ghi được 35 bàn. Đáng kể nhất trong số này là 7 lần lập công bàn ở hai trận chung kết. Đầu tiên là ở mùa bóng 1959/1960, thời điểm ông bùng nổ cùng Di Stefano giúp CLB đè bẹp Frankfurt 7-3 (Puskas 4 bàn, Di Stefano 3 bàn). 3 bàn còn lại được ông ghi trong trận chung kết diễn ra 2 năm sau, khi Real bị Benfica đánh bại với tỷ số 5-3.

Tuy chỉ giành một chiếc Cúp C1 cùng Real nhưng tên tuổi Puskas vĩnh viễn được xếp vào hàng ngũ huyền thoại của CLB này cũng như trong lịch sử bóng đá châu Âu. Trên mặt trận quốc tế, “thiếu tá siêu tốc” còn có 4 lần khoác áo đội tuyển Tây Ban Nha nhưng không ghi được bàn nào. Đó là lúc tuổi tác đã lấy đi của Puskas những tố chất tinh túy nhất.

Sơ lược bảng thành tích đời cầu thủ của Ferenc Puskas
Với đội tuyển Hungary: HCV Olympic 1952, Cúp Dr “Gero”.* Honved Kispest: 5 chức vô địch Hungary* Real Madrid: 5 chức vô địch Tây Ban Nha, 4 giải thưởng Pichichi, 1 Cúp C1, 1 Cúp liên lục địa (năm 1960), 1 Cúp Nhà vua.* Điều đáng tiếc nhất với Puskas: chưa giành được danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu, mặc dù ông rất xứng đáng với giải thưởng này.

Nguồn: vnexpress.net

Tiếp tục đọc

Xu hướng

Share via
Copy link
Powered by Social Snap